
Những doanh nghiệp chuyên xuất khẩu, nhập khẩu những lô hàng có giá trị rất lớn. Chắc chắn những lô hàng này phải được mua bảo hiểm hàng hóa. Và bạn đã bao giờ đóng góp tiền vào tổn thất do tàu chở hàng bị tổn thất chung xảy ra cho chính lô hàng mình đang tham gia bảo hiểm hàng hóa chưa. Và những tổn thất xảy ra thì sẽ được phân chia trách nhiệm như thế nào? Hãy cùng VietAviation tìm hiểu về tổn thất trong bảo hiểm hàng hải nhé.
1. Tổn thất chung là gì?
Theo quy tắc hàng hải chung (York-antwerp rules 2016), tổn thất chung trên biển khi xảy ra sự hy sinh đặc biệt mang tính chất chủ động và hợp lý nhằm cứu tàu và hàng gặp tai nạn trong chuyến đi trên đại dương.
Theo khoản 1 Điều 292 của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định khái niệm tổn thất chung như sau: “Tổn thất chung là những hy sinh và chi phí bất thường được thực hiện một cách có ý thức và hợp lý vì sự an toàn chung nhằm cứu tàu, hàng hóa, hành lý, giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách thoát khỏi hiểm họa chung.”
1.1. Tổn thất chung được chia làm 2 bộ phận
– Bộ phận thứ nhất: Hy sinh tổn thất chung. Là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực tiếp của một hành động tổn thất chung. Ví dụ: Tàu gặp bão lớn, buộc phải vứt hàng của chủ hàng A xuống biển để cứu toàn bộ hành trình. Hàng A bị vứt xuống biển là hy sinh tổn thất chung.
– Bộ phận thứ 2: Chi phí tổn thất chung. Phải trả cho người thứ ba trong việc cứu tàu, hàng, cước phí thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình. Những chi phí sau đây được coi là chi phí tổn thất chung:
- Chi phí cứu nạn.
- Chi phí làm nổi tàu khi mắc cạn, chi phí thuê kéo, lai dắt tàu khi bị nạn.
- Chi phí tại cảng lánh nạn.
- Tiền lãi của số tiền được công nhận là tổn thất chung (lãi suất 7%/ năm theo YorkAntwerp 1994) được tính cho đến hết 3 tháng sau ngày phát hành bản phân bổ tổn thất chung.
1.2. Khi nào tàu biển chở hàng được gọi là tổn thất chung?
Sáu điều kiện sau đây có thể hình thành một tổn thất chung:
– Phải là một hành vi có chủ tâm, tự nguyện: Vứt hàng xuống biển nhằm cứu tàu nổi lên, khỏi bị mắc nạn.
– Phải là hành động bảo vệ an toàn chung cho cả tàu và hàng hóa: thuyền trưởng nhờ tàu khác hoặc được cứu hộ đưa tàu mình vào cảng an toàn. Chi phí này do hãng tàu chịu, chứ không phải là hành vi tổn thất chung vì đó là tình huống xử lý bình thường của thuyền trưởng.
– Phải hợp lý: để cứu tàu ra khỏi bị mắc cạn, thay vì vứt các kiện hàng xuống trước, thuyền trưởng lại vứt các kiện nhỏ đắt tiền trước: không hợp lý.
– Để tránh một tai nạn: Tai nạn có thật sự chứ không phải dự đoán: Phun nước chữa lửa trên tàu khiến hàng bị hư. Không phải tổn thất chung nếu nguyên nhân là do khói bếp chứ không phải hỏa hoạn (chủ tàu phải bồi thường cho chủ hàng).
– Thiệt hại phải do hành vi tổn thất chung trực tiếp gây ra hoặc do hậu quả hợp lí do hành vi tổn thất chung: hàng bị cháy do hỏa hoạn trên tàu, thuyền trưởng cho phun nước, nước ngấm làm hư hàng hóa. Do lửa nóng và khói, một số hàng bị hư. Chỉ hàng bị nước chữa cháy làm bị hư mới được xem là tổn thất chung vì do hành vi tổn thất chung trực tiếp gây ra, còn hàng hóa hư hại do bị khói … không được xem là tổn thất chung, vì không phải do hành vi tổn thất chung trực tiếp gây ra.
– Tổn thất phải có tính khác thường: tàu mắc cạn, bão sắp đến, thuyền trưởng cho tàu chạy giật lùi để cứu nguy, máy móc bị hư do giật lùi, cần phải sửa chữa. Chi phí này được xem là tổn thất chung.
1.3. Thủ tục, giấy tờ liên quan đến tổn thất chung
Khi xảy ra tổn thất chung, chủ tàu hoặc thuyền trưởng phải tiến hành một số công việc sau:
– Tuyên bố tổn thất chung.
– Mời giám định viên đến để giám định tổn thất của tàu và hàng.
– Gửi cho các chủ hàng bản cam đoan đóng góp tổn thất chung (average bond); giấy cam đoan đóng góp tổn thất chung (average guarantee) để chủ hàng và người bảo hiểm điền vào; và xuất trình khi nhận hàng định khoản nguyên lý kế toán.
– Chỉ định một nhân viên tính toán, phân bổ tổn thất chung.
– Lập kháng nghị hàng hải nếu cần.
Chủ hàng phải làm những việc sau:
– Kê khai giá trị hàng hoá.
– Nhận bản cam đoan đóng góp tổn thất chung và giấy cam đoan đóng góp tổn thất chung.
2. Tổn thất riêng là gì?
Là tổn thất xảy ra chỉ ảnh hưởng tới riêng quyền lợi của chủ sở hữu tài sản bị tổn thất chứ không liên quan đến các quyền lợi khác có mặt trong hành trình. Nguyên nhân: thiên tai, tai nạn trên biển….
Theo Điều 295 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định về tổn thất riêng có nội dung như sau: “Mọi tổn thất về tàu, hàng hóa, hành lý, giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách không được tính vào tổn thất chung theo nguyên tắc quy định tại Điều 292 của Bộ luật này được gọi là tổn thất riêng. Người bị thiệt hại không được bồi thường; nếu không chứng minh được tổn thất xảy ra do lỗi của người khác.”
Ví dụ: Trong chuyến hành trình, tàu bị đâm vào đá ngầm và thủng 1 lỗ. Do đó nước tràn vào tàu và có nguy cơ làm ướt hàng hóa. Trước tình hình đó chủ tàu ra lệnh phải lấp lỗ thủng bằng vài bao hàng của 1 chủ hàng. Sau đó tàu về đến cảng: Chi phí sửa chữa tàu (hàn lỗ thủng) ước tính là 5000 USD; tổn thất hàng hóa dùng để lấp lỗ thủng là 20.000 USD.
- Tổn thất riêng: Chi phí sửa chữa tàu 5000 USD; vì tàu chỉ thủng một cách ngẫu nhiên và bất ngờ; chi phí này do chủ tàu tự chịu.
- Tổn thất chung: tổn thất hàng hóa 20.000USD vì nhằm cứu nguy cho hàng hóa trên tàu. Chi phí này sẽ do các chủ hàng khác; và chủ tàu đóng góp đền bù cho chủ hàng có hàng hóa bị TTC





